Bài tập lớn môn Luật Ngân hàng

Bài tập lớn Luật Ngân hàng

MỞ ĐẦU

Ngân hàng là một trong những lĩnh vực kinh doanh lớn, thu hút đầu tư nhiều, có tiềm năng phát triển và có sức ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Ngày nay, khi kinh doanh ngân hàng ngày càng phát triển, các tổ chức tín dụng được thành lập ngày càng nhiều và thực hiện các hoạt động ngân hàng một cách sôi nổi trên thị trường tiền tệ. Cho vay là một trong những hoạt động được đa số các tổ chức tín dụng thực hiện và phục vụ cho nhu cầu về vốn của nhiều tầng lớp, đối tượng khác nhau trong xã hội. Với đề tài “Phân tích quy định pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng thông qua hoạt động cho vay của 1 ngân hàng thương mại đối với cá nhân trong năm 2015”, bài viết này sẽ phân tích quy định pháp luật hiện hành về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng các quy định đó của ngân hàng Vietcombank trong hoạt động cho vay đối với cá nhân năm 2015, từ đó chỉ ra những điểm còn hạn chế và đề xuất một số giải pháp đối với vấn đề này.

NỘI DUNG

I. Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

1. Khái niệm

Theo quy định tại khoản 1 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”.  Hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp của tổ chức tín dụng là hoạt động ngân hàng, tức là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại hình tổ chức tín dụng mà Ngân hàng nhà nước sẽ cấp phép thực hiện tất cả hoặc một, một số các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác. Tổ chức tín dụng không được tiến hành bất kì hoạt động kinh doanh nào ngoài các hoạt động được ghi trong giấy phép do Ngân hàng nhà nước cấp.

Cấp tín dụng là hoạt động ngân hàng được nhiều loại hình tổ chức tín dụng thực hiện. Theo quy định tại khoản 14 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, cho vay trước hết là một hình thức cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng. Theo quy định tại khoản 16 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, trong hình thức cấp tín dụng này “bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

2. Đặc điểm

Quan hệ cho vay nói chung là mối quan hệ giữa hai bên chủ thể: bên cho vay và bên vay với hình thức pháp lí là hợp đồng tín dụng ghi nhận những thỏa thuận của các bên. Sự kiện cho vay luôn phát sinh bởi hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả một số tiền và được thực hiện dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.

Ngoài những đặc điểm chung về hoạt động cho vay như trên, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn có những đặc điểm riêng biệt như sau:

Thứ nhất, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh mang tính chức năng, là một trong những nghiệp vụ chính mà các tổ chức tín dụng thực hiện thường xuyên và chuyên nghiệp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có những tổ chức không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay nhưng hoạt động cho vay của những tổ chức này không phải là nghề nghiệp mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng.

Thứ hai, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng là nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện. Để thực hiện hoạt động cho vay, tổ chức tín dụng phải thỏa mãn những điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàng nhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theo luật định.

Thứ ba, do hoạt động tín dụng có tính rủi ro lớn và sự ảnh hưởng mang tính dây chuyền đối với nhiều hoạt động khác trong nền kinh tế nên ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng trong dân sự, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng phải tuân theo sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật ngân hàng và thậm chí là cả các tập quán thương mại về ngân hàng.

3. Phân loại

Có thể phân loại hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau và mỗi cách phân loại đều mang lại những ý nghĩa nhất định.

Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng có thể được chia thành hai loại là cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn và dài hạn. Cho vay ngắn hạn là hình thức cho vay mà trong đó thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận không quá 1 năm; hình thức này thường là để đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng trong thời gian ngắn. Cho vay trung hạn và dài hạn là hình thức cho vay mà trong đó thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận từ trên 1 năm trở lên; hình thức này thường để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng trong thời gian dài.Việc phân loại hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng theo cách này có ý nghĩa đối với nhiều chủ thể khác nhau. Với nhà lập pháp, có thể căn cứ vào đây để đưa ra những quy định điều chỉnh phù hợp. Với bên đi vay, có thể lựa chọn được loại hình cho vay phù hợp với mục đích sử dụng khoản vay, còn bên cho vay thì có thể đưa ra các quy định về lãi suất vốn vay, kế hoạch sử dụng vốn…

Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được chia thành cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là hình thức mà nghĩa vụ hoàn trả tiền vay được bảo đảm bằng tài sản nhất định của bên vay hoặc của bên thứ ba. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hay bên thứ ba. Việc phân loại theo cách thức này giúp cho bên cho vay và bên vay xác định trình tự, thủ tục pháp lý liên quan đến khoản vay, đồng thời cũng có ý nghĩa trong việc giúp bên cho vay quyết định có cho vay đối với khách hàng hay không.

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được chia thành cho vay kinh doanh và cho vay tiêu dùng. Cho vay kinh doanh là hình thức mà vốn vay được bên vay cam kết sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh, còn cho vay tiêu dùng là hình thức trong đó bên vay cam kết sử dụng vốn vay vào mục đích thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, nhà cửa, phương tiện đi lại… Việc phân loại hoạt động cho vay theo tiêu chí này có ý nghĩa tạo cơ sở cho bên cho vay giám sát mục đích sử dụng vốn vay, căn cứ xác định khách hàng cấp tín dụng; đồng thời các nhà lập pháp có thể căn cứ vào đây để đưa ra các chính sách khuyến khích tiêu dùng hay phát triển kinh doanh.

Căn cứ vào chủ thể vay vốn, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được chia thành cho vay với khách hàng là cá nhân và cho vay với khách hàng là tổ chức. Cách phân loại này góp phần giúp các nhà lập pháp phân nhóm đối tượng để đưa ra các quy định pháp lý điều chỉnh phù hợp, còn phía tổ chức tín dụng có thể đưa ra các quy định về điều kiện, thủ tục, hồ sơ xin vay vốn đối với mỗi nhóm chủ thể.

Ngoài ra, nếu căn cứ vào phương thức cho vay thì hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng bao gồm nhiều loại như: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay theo hạn mức thấu chi.

4. Vai trò của hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, có ý nghĩa đối với nhiều đối tượng khác nhau.

Đối với bản thân tổ chức tín dụng, cho vay là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh mang tính chức năng, mang lại thu nhập lớn cho các tổ chức này. Lãi từ các khoản vay chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng thu nhập của các tổ chức tín dụng nói chung.

Đối với khách hàng đi vay, hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng cung cấp nguồn vốn lớn cho khách hàng khi cần thiết và với nhiều hình thức vay khác nhau, khách hàng có thể tùy ý lựa chọn phù hợp với mục đích, khả năng của mình.

Đối với nền kinh tế, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng góp phần thu hút vốn đầu tư, giải quyết nhu cầu về vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế đồng thời thúc đẩy mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật.. để đẩy nhanh phát triển kinh tế.

II. Phân tích quy định pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

1. Chủ thể tham gia quan hệ cho vay

Trong quan hệ cho vay, chủ thể tham gia bao gồm bên cho vay và bên vay. Bên cho vay là tổ chức tín dụng, còn bên vay là các tổ chức, cá nhân; các chủ thể này phải đáp ứng những điều kiện nhất định do pháp luật quy định.

1.1 Bên cho vay:

Trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, bên cho vay là các tổ chức tín dụng và các tổ chức tín dụng này phải thỏa mãn những điều kiện như sau: có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng nhà nước cấp, có điều lệ do Ngân hàng nhà nước chuẩn y, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp, có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng. Những điều kiện này được đặt ra đối với bên cho vay để góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và là cơ sở để đánh giá hiệu lực pháp lý của hợp đồng tín dụng.

1.2 Bên vay:

Trong quan hệ cho vay, bên vay sẽ phải đáp ứng các điều kiện vay vốn chung do pháp luật quy định và các điều kiện riêng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại điều 7 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), bên vay phải đáp ứng các điều kiện sau:

Bên vay phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Cụ thể hơn, nếu bên vay là cá nhân, pháp nhân Việt Nam thì: pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự; cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Nếu bên vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài thì phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân. Khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng, bên cho vay phải kiểm tra điều kiện này trên cơ sở các giấy tờ, tài liệu do bên vay xuất trình.

Bên vay phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp; có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật; có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh (đối với các khoản vay có bảo đảm) và ngoài ra, phải không thuộc những trường hợp bị cấm cấp tín dụng.

2. Hợp đồng tín dụng – hình thức pháp lý của hoạt động cho vay

2.1 Khái niệm, đặc điểm hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm. Hợp đồng tín dụng có một số đặc điểm sau đây:

Về chủ thể, một bên tham gia hợp đồng tín dụng là tổ chức tín dụng có đủ điều kiện theo luật định. Bên còn lại có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có nhu cầu vay vốn và thỏa mãn các điều kiện vay vốn do pháp luật quy định cũng như do tổ chức tín dụng xác định.

Về đối tượng, hợp đồng tín dụng có đối tượng là tiền, có thể là tiền mặt hoặc bút tệ, được thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng.

Về tính rủi ro, hợp đồng tín dụng có tính rủi ro cao.

2.2 Hình thức của hợp đồng tín dụng

Để đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng tín dụng, pháp luật quy định mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản. Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản sẽ tạo ra chứng cứ cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp phát sinh; là sự công bố công khai mối quan hệ pháp lý giữa hai bên và góp phần tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các hoạt động như thu thuế, lệ phí, thanh tra tài chính… một cách tốt hơn.

2.3 Nội dung của hợp đồng tín dụng

Nội dung của hợp đồng tín dụng là những điều khoản do các bên tự thỏa thuận trên cơ sở các quy định pháp luật với nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng. Theo quy định tại điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì: “Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận.” Đối với từng điều khoản, các bên phải thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng thì mới có giá trị pháp lý. Chẳng hạn như với điều khoản về điều kiện vay vốn, khi thỏa thuận các bên phải ghi trong hợp đồng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn; hay đối với điều khoản về đối tượng hợp đồng, các bên phải thỏa thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn; hoặc với điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay, trong hợp đồng phải có ghi rõ ngày tháng năm trả tiền, hoặc trả tiền sau bao lâu kể từ ngày kí, dự liệu trước về khả năng gia hạn hợp đồng…

2.4 Giao kết hợp đồng tín dụng

Việc giao kết hợp đồng tín dụng được thực hiện theo các bước như sau:

Bước 1: Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng. Ở bước này, một bên gửi văn bản chính thức cho bên kia với nội dung thể hiện ý chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng. Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng là tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị là đơn xin vay, gửi kèm theo các giấy tờ tài liệu cần thiết. Cũng có những trường hợp tổ chức tín dụng là bên đề nghị giao kết hợp đồng với văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho những khách hàng tiềm năng mà tổ chức đó lựa chọn là đối tác.

Bước 2: Thẩm định hồ sơ tín dụng. Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ – pháp lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định mức độ thỏa mãn các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó quyết định cho vay hay không. Các nhân viên chuyên trách của tổ chức tín dụng thực hiện thẩm định hồ sơ tín dụng, sau đó lập báo cáo trình lên cho người quản lý có thẩm quyền quyết định việc cho vay.

Bước 3: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng. Bên nhận đề nghị (thông thường là tổ chức tín dụng) gửi thông báo bằng văn bản cho bên kia với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng.

Bước 4: Đàm phán, ký kết hợp đồng tín dụng. Ở bước này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Quá trình giao kết hợp đồng kết thúc khi đại diện của các bên chính thức ký tên vào văn bản hợp đồng tín dụng.

2.5 Hiệu lực của hợp đồng tín dụng

Căn cứ vào quy định về hiệu lực của giao dịch dân sự tại điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 và tính đặc thù của giao dịch tín dụng, có thể thấy hợp đồng tín dụng có hiệu lực khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau: chủ thể tham gia hợp đồng có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tự do ý chí; hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật ngân hàng.

Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng là thời điểm các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng kí tên, đóng dấu vào văn bản hợp đồng tín dụng.

Nếu mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội và phương hại đến lợi ích chung thì hợp đồng tín dụng bị coi là vô hiệu tuyệt đối. Khi đó, hợp đồng không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm ký kết và các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nếu chủ thể tham gia giao kết không có năng lực hành vi dân sự hoặc hợp đồng ký kết vi phạm điều kiện về tự nguyện ý chí thì hợp đồng tín dụng bị coi là vô hiệu tương đối.

2.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín dụng

Trong quan hệ hợp đồng tín dụng, tổ chức tín dụng đóng vai trò là bên cấp tín dụng, đồng thời là chủ nợ, còn khách hàng là người hưởng tín dụng và cũng là con nợ. Với tư cách pháp lý như thế, tổ chức tín dụng (bên cho vay) và khách hàng (bên vay) có các quyền và nghĩa vụ như sau:

Theo quy định tại điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, tổ chức tín dụng có các quyền như yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay; từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn; kiểm tra, giám sát quả trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng; khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng..v..v.. Bên cạnh đó, tổ chức tín dụng cũng có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.

Điều 24 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định khách hàng có quyền từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng với các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật. Khách hàng có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp; sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác; trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghia vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.

2.7 Thực hiện hợp đồng tín dụng và trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng tín dụng

Thực hiện hợp đồng tín dụng là việc các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Việc thực hiện hợp đồng tín dụng phải tuân theo các nguyên tắc thực hiện hợp đồng do pháp luật về hợp đồng quy định. Khi các bên thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ của mình thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực, các bên thanh lý hợp đồng. Còn nếu trong quá trình thực hiện, một bên hoặc cả hai bên vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng thì bên vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm của mình.

Bên vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm nộp phạt vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng tín dụng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng khi bên bị vi phạm chứng minh được có thiệt hại thực tế xảy ra.

2.8 Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng và các phương thức giải quyết tranh chấp

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được hiểu là tình trạng pháp lý của quan hệ hợp đồng tín dụng, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có thể được giải quyết bằng các phương thức thương lượng, hòa giải hoặc cơ chế tài phán – tòa án (theo thủ tục tố tụng dân sự) hoặc trọng tài thương mại (theo thủ tục tố tụng trọng tài).

2.9 Bảo đảm tiền vay

Các biện pháp bảo đảm tiền vay gồm có bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm không bằng tài sản.

Các biện pháp bảo đảm bằng tài sản bao gồm: cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Các biện pháp này được thực hiện theo quy định tại thông tư 07/2003/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Theo quy định của pháp luật, tài sản cầm cố có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… còn tài sản thế chấp là bất động sản. Các tài sản này phải thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay hay bên bảo lãnh và phải được phép giao dịch.

Các biện pháp bảo đảm không bằng tài sản gồm có: ngân hàng thương mại chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, ngân hàng thương mại nhà nước cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ và bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức chính trị – xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn.

2.10 Chấm dứt hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau: người vay trả hết nợ, tổ chức tín dụng thu hồi nợ trước thời hạn hoặc tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay khi khách hàng không trả được nợ.

Khi đáo hạn hợp đồng, khách hàng trả đủ cả vốn lẫn lãi cho tổ chức tín dụng, hai bên thanh lý hợp đồng, hợp đồng chấm dứt. Nếu khách hàng không trả được nợ, tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận để thu hồi nợ, khi đó, hợp đồng tín dụng cũng chấm dứt. Nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện ra khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật hoặc sử dụng vốn sai mục đích, vi phạm hợp đồng tín dụng thì tổ chức tín dụng có quyền thu hồi nợ trước hạn theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm hạn chế những rủi ro do nguyên nhân từ phía khách hàng mang lại và bảo vệ lợi ích cho các tổ chức tín dụng.

3. Các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Theo quy định tại điều 126 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức tín dụng không được cho vay đối với những đối tượng sau: Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn; Cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương. Quy định này là hợp lý, vì những đối tượng này có mối quan hệ thân cận, gần gũi đối với những người có thẩm quyền xét duyệt cho vay, hoặc đều là những đối tượng có chức vụ, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cho nên việc hạn chế họ chính là cách thức để đảm bảo tính khách quan và tránh thất thoát vốn trong việc cho vay.

Điều 127 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng sau: Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Cổ đông lớn, cổ đông sáng lập; Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó; Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng; Các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát. Đây chính là các trường hợp hạn chế cho vay để đảm bảo tính khách quan và an toàn tín dụng

Ngoài ra, pháp luật còn quy định giới hạn cho vay đối với một khách hàng – điều 128 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và thông tư số 13/2010/TT-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Theo đó, tổng dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng và tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Thông tư 13/2010/TT-NHNN còn có quy định về một số trường hợp Thủ tướng Chính phủ quyết định mức cấp tín dụng tối đa vượt quá các giới hạn quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 điều 8. Pháp luật quy định cụ thể về các giới hạn cho vay nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro mà khách hàng có thể đưa đến cho tổ chức tín dụng.

III. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng của Ngân hàng Vietcombank đối với cá nhân trong năm 2015

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/04/1963 với tổ chức tiền thân là Cục Quản lý ngoại hối. Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách là một ngân hàng thương mại cổ phần vào ngày 02/06/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Với bề dày kinh nghiệm hoạt động và đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, trong nhiều năm qua, Vietcombank đã đạt được rất nhiều thành tích đáng ghi nhận trong hoạt động ngân hàng nói chung. Với các quy định pháp luật về cho vay ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ, đồng bộ như đã phân tích ở phần trên, thực tiễn áp dụng các quy định này đối với hoạt động cho vay cá nhân tại Vietcombank cũng đã đạt được rất nhiều kết quả khả quan, đặc biệt là trong năm 2015. Trong phần dưới đây, người viết sẽ phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng của ngân hàng Vietcombank đối với cá nhân trong năm 2015 trên cơ sở những thành tựu mà Vietcombank đã đạt được và một số hạn chế còn tồn tại.

1.. Thành tựu

Thứ nhất, quy trình cho vay với khách hàng cá nhân tại các điểm giao dịch của Vietcombank được thực hiện rất chặt chẽ và thống nhất theo “Quy trình nghiệp vụ tín dụng khách hàng cá nhân” do Tổng giám đốc ngân hàng ban hành. Theo đó, quy trình cho vay gồm các bước như sau:

Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng.

Ở bước này, nhân viên tín dụng sẽ tiếp xúc và tìm hiểu các thông tin khách hàng, đồng thời hướng dẫn khách hàng lập giấy đề nghị vay vốn, bổ sung các giấy tờ cần thiết và nhân viên tín dụng cũng sẽ báo cáo sơ bộ với phụ trách phòng để sắp xếp tiến độ xử lý hồ sơ.

Bước 2: Thẩm định tín dụng.

Sau khi nhận hồ sơ từ khách hàng, bộ phận quan hệ khách hàng cá nhân và bộ phận thẩm định tài sản đảm bảo sẽ tiến hành bước này với các kĩ thuật nghiệp vụ cần thiết. Với bước này, Vietcombank quy định thời gian thực hiện không quá 02 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của khách hàng.

Bước 3: Quyết định tín dụng.

Nhân viên tín dụng trình bày ý kiến đề xuất về tình hình khách hàng trong tờ trình thẩm định tín dụng với Giám đốc hoặc Hội đồng tín dụng để Giám đốc hoặc Hội đồng tín dụng ra quyết định cho vay. Quyết định này được lưu vào hồ sơ tín dụng.

Bước 4: Ký kết hợp đồng tín dụng.

Sau khi có quyết định đồng ý cho vay ở bước 3, bộ phận quan hệ khách hàng cá nhân và thẩm định tài sản đảm bảo tiến hành soạn, ký kết hợp đồng và các thủ tục công chứng, đăng ký, nhập kho…

Bước 5: Giải ngân tiền vay

Nhân viên tín dụng tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra đầy đủ các loại chứng từ, sau đó lập Giấy đề nghị rút vốn kiêm khế ước nhận nợ vay theo mẫu của ngân hàng và tiến hành ký kết với khách hàng, trình Ban giám đốc chi nhánh ký duyệt khế ước nhận nợ vay của khách hàng và chuyển hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ vay cho bộ phận Kế toán để tiến hành giải ngân tiền vay.

Bước 6: Kiểm tra sau giải ngân và thu hồi nợ vay

Nhân viên tín dụng kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng theo định kỳ 2 tháng/lần, nếu sai mục đích thì có thể đề nghị thu hồi nợ vay trước hạn. Hàng tháng, nhân viên tín dụng thông báo và nhắc nhở khách hàng thanh toán lãi vay. Đến kì trả nợ gốc, nhân viên tín dụng thông báo cho khách hàng và đôn đốc thanh toán nợ.

Bước 7: Xử lý nợ quá hạn.

Nếu khách hàng chưa thanh toán nợ vay và khoản vay cũng không được gia hạn sau ngày đến hạn thanh toán nợ gốc 5 ngày thì chuyển sang nợ quá hạn. Khoản vay quá hạn liên tục trong 180 ngày thì chuyển cho bộ phận thu hồi nợ để tiếp tục xử lý. Bộ phận này sẽ tiến hành gặp gỡ khách hàng, thuyết phục, xử lí tài sản bảo đảm.

Như vậy, có thể nhận định rằng thành tựu đầu tiên mà Vietcombank luôn duy trì được đó là có một quy trình cho vay chặt chẽ, phù hợp với quy định của pháp luật và thống nhất trên toàn bộ các điểm giao dịch. Đặc biệt, quy trình thẩm định cá nhân được thực hiện rất chặt chẽ, nhờ đó mà có thể đưa ra các kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, thời gian hoàn vốn, rủi ro tiềm ẩn… nhằm đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay một cách đúng đắn; làm cơ sở để xác định số tiền vay, gia hạn cho vay, mức thu nợ hợp lí. Như đã nói ở trên, thành phần tham gia khâu thẩm định gồm có bộ phận quan hệ khách hàng cá nhân và bộ phận thẩm định tài sản, cụ thể ở đây sẽ là trưởng phòng quan hệ khách hàng cá nhân, chuyên viên quan hệ khách hàng và chuyên viên thẩm định tài sản. Việc thẩm định cho vay được thực hiện trên cơ sở các nguồn thông tin: hồ sơ tài liệu do khách hàng cung cấp và báo cáo sơ bộ về khách hàng và tờ trình thẩm định. Vietcombank quy định những trường hợp từ chối cho vay là: đối với khách hàng cá nhân có thu nhập từ lương nhưng nghề nghiệp và thu nhập không ổn định hoặc ổn định dưới 1 năm, đối với khách hàng cá nhân có thu nhập từ hoạt động sản xuất nhưng kinh nghiệm hoạt động sản xuất kinh doanh nghề chính dưới 1 năm, hoặc thay đổi ngành nghề kinh doanh chính. Ngoài ra, trong hoạt động cho vay, hầu hết tài sản bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm. Quá trình thẩm định đầy đủ, chặt chẽ như thế tạo ra hiệu quả rất lớn trong việc cho vay và phòng ngừa rủi ro cho hoạt động tín dụng cho Vietcombank.

Thứ hai, trên cơ sở các quy định của pháp luật, Vietcombank triển khai rất nhiều sản phẩm cho vay cá nhân đa dạng và mang lại hiệu quả cao, tác dụng tích cực đối với khách hàng trong năm 2015 như: cho vay xây sửa nhà, ngôi nhà mơ ước, gia đình thịnh vượng, cho vay mua nhà dự án, cho vay mua ô tô,… Mỗi sản phẩm có những tính năng và điều kiện sử dụng khác nhau để khách hàng có thể cân nhắc lựa chọn loại hình sản phẩm phù hợp với mình. Ví dụ, sản phẩm cho vay xây sửa nhà có các tính năng khá hấp dẫn như sau: giá trị khoản vay lên đến 70% giá trị tài sản bảo đảm, thời gian hoàn trả khoản vay lên đến 10 năm, áp lực trả nợ gốc trong thời gian đầu thấp với các lựa chọn hình thức trả nợ vốn vay phù hợp mức thu nhập thực tế (trả dần), thủ tục cho vay nhanh chóng, thuận tiện, lãi suất vay cạnh tranh, giảm dần theo dư nợ thực tế, khả năng kiểm soát tức thời hoạt động rút, trả nợ vay tại Vietcombank bằng dịch vụ VCB-iB@nking hoặc VCB -SMSB@nking. Điều kiện sử dụng của loại sản phẩm này là: cá nhân không quá 60 tuổi có nhu cầu vay vốn để xây sửa nhà, có thu nhập hàng tháng từ 05 triệu đồng trở lên hoặc từ 10 triệu đồng trở lên nếu cả vợ/chồng cùng cam kết trả nợ, có tài sản bảo đảm là bất động sản của người vay hoặc của bố mẹ người vay hoặc tài sản hình thành từ vốn vay, có lịch sử vay trả nợ tốt (trong trường hợp đã từng vay vốn tại bất kỳ Ngân hàng nào), đạt chuẩn xếp hạng tín dụng của Vietcombank theo quy định của sản phẩm. Khách hàng muốn sử dụng sản phẩm này có thể đăng ký với hồ sơ gồm: giấy phép xây dựng và/hoặc hợp đồng xây dựng; giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn khác tùy theo giai đoạn xây, sửa nhà; chứng minh nhân dân/hộ chiếu, sổ hộ khẩu/giấy chứng nhận tạm trú của người vay và của bên bảo lãnh; giấy đăng ký kết hôn/chứng nhận độc thân; giấy đề nghị vay vốn (theo mẫu); giấy tờ chứng minh thu nhập; giấy tờ về tài sản bảo đảm. Sự đa dạng hóa các loại hình sản phẩm đồng thời quy định rất rõ ràng về điều kiện, tính năng cũng như hồ sơ của các loại sản phẩm tạo thuận lợi cho khách hàng trong việc lựa chọn và từ đó giúp cho Vietcombank thu hút thêm đông đảo khách hàng ở mảng cho vay cá nhân.

Thứ ba, hệ thống kênh phân phối trải rộng trên nhiều địa bàn của Vietcombank tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi muốn vay vốn đồng thời cho phép ngân hàng khai thác thêm các khách hàng tiềm năng ở nhiều vùng miền. Trong năm 2015, Vietcombank đã khai trương 6 chi nhánh và 23 phòng giao dịch. Tổng hiện tại ngân hàng có 96 chi nhánh và 368 phòng giao dịch, bao phủ 50 tỉnh, thành phố của nước ta, 2 công ty con tại Việt Nam, 1 văn phòng đại diện và 2 công ty con tại nước ngoài, 5 công ty liên doanh, liên kết. Đặc biệt, Vietcombank đã thành lập, sắp xếp lại bộ máy của các chi nhánh để hình thành bộ phận chuyên bán lẻ tại chi nhánh. Trong đó được chú trọng nhất là việc thành lập Phòng Tín dụng thể nhân tại các chi nhánh và đã triển khai cho vay tại các phòng giao dịch giúp tiếp cận thị trường sâu sát hơn. Việc thành lập phòng ban chuyên trách mảng cho vay cá nhân thể hiện rõ ràng mục tiêu hoạt động hướng đến bán lẻ của các nhà lãnh đạo Vietcombank, nhờ đó mà hoạt động cho vay cá nhân có những chuyển biến rõ rệt và khởi sắc thực sự trong năm qua.

Thứ tư, trên cơ sở các quy định về lãi suất của pháp luật và của Ngân hàng nhà nước cũng như căn cứ thực tiễn nhu cầu của khách hàng là cá nhân, với mục đích hỗ trợ khách hàng thực hiện những kế hoạch tiêu dùng, kinh doanh, từ 01/04/2015 Vietcombank triển khai chương trình cho vay ưu đãi với lãi suất chỉ từ 7%/năm, quy mô lên tới 10,000 tỷ đồng. Có hai loại đối tượng được ưu đãi, trong đó có khách hàng cá nhân vay mua nhà, xây sửa nhà, mua ô tô, sản xuất kinh doanh. Cụ thể, đối với các khoản vay từ 12 tháng trở xuống: lãi suất ưu đãi 7%/năm trong 6 tháng đầu; đối với khoản vay từ trên 12 tháng đến dưới 24 tháng:  lãi suất ưu đãi 7.2%/năm trong 6 tháng đầu; đối với các khoản vay từ 24 tháng trở lên: lãi suất ưu đãi 7.2%/năm trong 12 tháng đầu. Chương trình ưu đãi lãi suất dành cho những khách hàng ký hợp đồng vay mới và giải ngân từ ngày 01/04/2015 đến hết 31/12/2015 hoặc khi hết quy mô chương trình. Chương trình cho vay ưu đãi của Vietcombank đã thu hút được lượng khách hàng khá lớn, thêm rất nhiều hợp đồng vay mới và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Bên cạnh đó, theo Báo cáo của ban điều hành Vietcombank, trong năm 2015, ngân hàng đã tích cực triển khai và thực hiện nghiêm túc quy định về lãi suất cho vay đối với các chương trình cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước như cho vay đối với 05 lĩnh vực ưu tiên, cho vay hỗ trợ nhà ở theo Thông tư số 11/2013/TT-NHNN, Thông tư số 32/2014/TT-NHNN, chương trình thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NĐ-CP, chương trình hỗ trợ giảm tổn thất  trong nông nghiệp  theo Quyết định 68/2014/QĐ-CP….

Thứ năm, với thực tiễn áp dụng linh hoạt và hiệu quả các quy định pháp luật về cho vay cá nhân, nhìn chung trong năm 2015, Vietcombank đã thu hút được rất nhiều khách hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng, tổng dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân tăng mạnh. Cho vay cá nhân tăng dần quá các năm, nhưng đặc biệt tăng cao trong năm 2015, chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu cho vay. Cụ thể, tín dụng tăng 50,4% ở cá nhân – mức tăng rất cao so với những năm trước, tỷ trọng dư nợ cá nhân ở mức 20,1% trong cơ cấu dư nợ, lớn hơn khá nhiều so với dư nợ SME (15,6%). Theo Báo cáo kết quả kinh doanh của Vietcombank trong năm 2015, danh mục cho vay mở rộng với tỷ trọng bán lẻ tăng: dư nợ trung dài hạn chiếm 40,5% tổng dư nợ; dư nợ VND chiếm 81,3% tổng dư nợ; khoảng 75% tổng dư nợ được bảo đảm bằng tài sản. Trong năm 2015, tổng dư nợ tín dụng của Vietcombank là 387,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2014; tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 18% trong giai đoạn 2009 đến 2015. Như vậy, có thể nói hoạt động cho vay đối với khối khách hàng cá nhân của Vietcombank tăng trưởng nhanh và tốc độ tăng trưởng ổn định, mang lại thu nhập lớn cho Vietcombank đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đạt kết quả cao như trong năm 2015.

Ngoài ra, trong năm 2015, Vietcombank còn thu được nhiều thành tựu khác như đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng trên nguyên tắc không hạ chuẩn vay, kết nối chặt chẽ giữa các bộ phận có liên quan trong công tác xử lý thu hồi nợ có vấn đề, tạo chuyển biến quan trọng trong thu hồi nợ, doanh số thu nợ liên tục tăng và tỷ số doanh số thu nợ/ doanh số cho vay khá cao đã chứng tỏ nỗ lực của Vietcombank trong công tác thu nợ và thiện chí trả nợ của khách hàng vay, hệ số an toàn vốn tối thiểu gần 11,04% đáp ứng quy định của Ngân hàng nhà nước (tối thiểu 9%) và tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/nợ xấu được duy trì ở mức cao (gần 121%) đảm bảo cho mức độ an toàn của hoạt động cho vay.

2. Hạn chế

Mặc dù hoạt động cho vay cá nhân của Vietcombank trong năm 2015 đạt được khá nhiều kết quả khả quan, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng còn khá nhiều hạn chế tồn tại ở mảng này mà Vietcombank cần nỗ lực hơn nữa để khắc phục, để việc tăng trưởng tín dụng thực sự đi liền với chất lượng tín dụng.

Thứ nhất, đặc điểm của đối tượng khách hàng cá nhân là quy mô nhỏ lẻ nhưng số lượng lại rất lớn, do đó công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay là rất khó khăn, mất nhiều chi phí, thời gian và công sức của cán bộ tín dụng. Đối với khối khách hàng cá nhân, có lẽ Vietcombank cần thực hiện khâu giám sát một cách hiệu quả hơn nữa, cần có giải pháp sao cho vẫn kiểm soát tốt nhưng lại không tốn quá nhiều nhân lực và chi phí cho vấn đề này.

Thứ hai, các sản phẩm của Vietcombank đáp ứng được nhu cầu khách hàng, nhưng chưa có sự khác biệt nổi trội so với các ngân hàng khác. Về cơ bản, các sản phẩm này cũng giống hoặc tương tự như sản phẩm của BIDV, Vietinbank, Sacombank,… và chưa có sự khác biệt hay đặc biệt gì nhiều.

Thứ ba, mặc dù Vietcombank đã nỗ lực thành lập bộ phận chuyên bán lẻ và Phòng Tín dụng thể nhân tại các chi nhánh, tuy nhiên để hệ thống mạng lưới bán lẻ (trong đó có cho vay cá nhân) vận hành thực sự chuyên nghiệp thì nhiều khâu, nhiều bước và quy trình phối hợp cần rà soát lại để đảm bảo hiệu quả cao hơn trong quản lý, giám sát quản trị rủi ro toàn hệ thống và tạo thuận lợi cho khách hàng.

Thứ tư, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank dù thấp hơn mức khống chế kế hoạch nhưng vẫn còn khá cao, trong năm 2015 là 1,84%. Trong năm qua, thu nợ xấu đạt 2.432 tỷ đồng – con số này có vẻ không nhỏ, thế nhưng vẫn thấp hơn năm 2014 là 2.494 tỷ đồng. Như vậy, khả năng kiểm soát nợ xấu của ngân hàng vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục.

Thứ năm, vấn đề đạo đức trong thực hiện nghiệp vụ ngân hàng của cán bộ tín dụng Vietcombank cũng có thể xem là một điểm hạn chế, khi mà có những vụ tranh chấp xảy ra do chính cán bộ tín dụng đã tiếp tay cho khách hàng lợi dụng hợp đồng. Ví dụ như vụ việc của ông Trần Bá Công trú tại tổ dân phố 13, thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Ông Công ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Tĩnh vay số tiền 300 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng. Để đảm bảo cho số tiền vay trên, ông Trần Vĩnh Hạp và bà Nguyễn Thị Nguyệt là hàng xóm của gia đình ông Công đồng ý dùng tài sản là giấy tờ quyền sử dụng đất của mình để đảm bảo bằng hình thức ký hợp đồng thế chấp tài sản. Lợi dụng ngay chính hợp đồng thế chấp tài sản này, cán bộ tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Tĩnh đã cho hộ gia đình ông Công (ông Công cùng vợ là bà Tuyết) vay thêm 900.000.000đ chia làm hai hợp đồng, mỗi hợp đồng trị giá 450.000.000đ. Ông Hạp và bà Nguyệt không hề biết việc tài sản của mình được đem ra đảm bảo cho cho khoản tiền vay 2 lần 900 triệu đồng giữa ông Công, bà Tuyết với ngân hàng. Tất cả các khoản vay đều thực hiện với mục đích mua đất và làm nhà ở. Tuy nhiên hộ gia đình ông Công không mua đất và làm nhà như cam kết trong việc sử dụng vốn vay. Về sau, khi ông Hạp và bà Nguyệt biết chuyện, tranh chấp xảy ra, vụ việc này đã được đưa ra tòa án xét xử. Những vụ việc như thế vừa gây tổn thất cho khách hàng vừa làm ảnh hưởng đến uy tín của Vietcombank, do đó, cần phải triệt để hạn chế.

IV. Một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với cá nhân

Với các quy định pháp luật như trên và từ thực tiễn áp dụng của ngân hàng Vietcombank, có thể đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, hiệu quả hoạt động cho vay đối với cá nhân của ngân hàng Vietcombank nói riêng và tổ chức tín dụng nói chung như sau:

Một là, để việc áp dụng pháp luật được tiến hành tốt cũng như thuận lợi cho các tổ chức tín dụng thì cần phải thường xuyên rà soát, hệ thống hóa các văn bản pháp luật về hoạt động cho vay để đảm bảo một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động thực tiễn.

Hai là, phải củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của phòng ban chuyên trách mảng cho vay cá nhân. Ví dụ như với Vietcombank, cần rà soát lại các khâu, các bước tại các bộ phận chuyên bán lẻ và Phòng Tín dụng thể nhân ở các chi nhánh, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa quy trình phối hợp hoạt động tại các bộ phận này…

Ba là, cần đa dạng hóa hơn nữa các sản phẩm cho vay của tổ chức tín dụng để tạo ra phạm vi chọn lựa rộng rãi cho khách hàng. Đặc biệt, các ngân hàng (như Vietcombank) cần cá biệt hóa các sản phẩm của mình để có sự khác biệt nổi bật hơn so với những ngân hàng khác, từ đó thu hút nhiều khách hàng hơn.

Bốn là, thường xuyên rà soát, đánh giá toàn diện danh mục nợ có vấn đề để xác định số tiền dự kiến thu hồi, biện pháp, tiến độ thu hồi và trách nhiệm thu hồi, đôn đốc các chi nhánh tập trung mọi nguồn lực quyết liệt trong công tác xử lý và thu hồi nợ có vấn đề, tăng cường khả năng kiểm soát nợ xấu và xử lý nợ xấu.

Năm là, đẩy mạnh công tác đào tạo nghiệp vụ lẫn giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, nhân viên ngân hàng. Bởi đội ngũ nhân sự là một trong những yếu tố làm nên bộ mặt ngân hàng, tạo lập danh dự, uy tín của ngân hàng và lòng tin ở khách hàng. Bên cạnh việc có trình độ chuyên môn tốt thì việc nhân viên ngân hàng có phẩm cách đạo đức tốt cũng là điều cần được chú trọng để hạn chế tối đa những hành vi gian lận gây ảnh hưởng đến cả ngân hàng và khách hàng.

Ngoài các biện pháp nêu trên (dựa trên sự phân tích thực tiễn của ngân hàng Vietcombank), các tổ chức tín dụng cần căn cứ tình hình cụ thể của tổ chức mình để có những giải pháp phù hợp đối với hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung.

KẾT LUẬN

Qua sự phân tích ở các phần trên, có thể thấy rằng hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ngày càng được chú trọng phát triển và mở rộng, mang lại nguồn thu lớn cho các ngân hàng cũng như cung cấp nguồn vốn cần thiết cho các chủ thể trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động này vẫn còn có những điểm hạn chế, bất cập nhất định dẫn đến hiệu quả chưa thực sự cao. Thiết nghĩ rằng, để đạt được hiệu quả tối ưu trong công tác cho vay, cần có sự nỗ lực toàn diện, không chỉ của tổ chức tín dụng mà còn cả khách hàng và các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này nữa.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2014.
  2. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
  3. Bộ luật dân sự năm 2005
  4. Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
  5. Thông tư 07/2003/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
  6. Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
  7. Thông tư số 13/2010/TT-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
  8. Trần Ngọc Thu, Khóa luận tốt nghiệp: Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, Hà Nội, 2011.
  9. Báo cáo của Ban điều hành ngân hàng Vietcombank về kết quả hoạt động kinh doanh năm 2015 và định hướng kinh doanh năm 2016.
  10. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2015 của ngân hàng Vietcombank.
  11. Vietcombank triển khai chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi chỉ từ 7%/năm, http://www.vietcombank.com.vn/ , http://www.vietcombank.com.vn/news/Vcb_News.aspx?ID=5726 , 02/04/2015, 15/09/2016.
  12. Cho vay cá nhân, http://www.vietcombank.com.vn/ , http://www.vietcombank.com.vn/Personal/Loan/ , 15/09/2016.

*Vui lòng xem mục Bản quyền khi muốn sử dụng lại bài viết của Tôi học nghề luật.

Bình luận

Scroll to Top
%d